123
Những thách thức của nghề đánh bắt hải sản - Báo Bà Rịa - Vũng Tàu điện tử

Những thách thức của nghề đánh bắt hải sản

Chủ Nhật, 11/02/2018, 18:27 [GMT+7]
In bài này
.

Bên cạnh những thành quả đã đạt được, thực tế hiện nay cho thấy, nghề đánh bắt hải sản nước ta còn những yếu kém và phải đối mặt với nhiều áp lực.

GIÀU TIỀM NĂNG

Theo Viện Nghiên cứu hải sản Việt Nam (Bộ NN-PTNT), vùng biển nước ta có hơn 2.458 loài cá, gồm nhiều bộ, họ khác nhau, trong đó có khoảng 110 loài có giá trị kinh tế cao. Trữ lượng cá ở vùng biển nước ta khoảng 5 triệu tấn/năm, trữ lượng cá có thể đánh bắt hàng năm khoảng 2,3 triệu tấn. Các loài động vật thân mềm ở Biển Đông có hơn 1.800 loài, trong đó có nhiều loài là thực phẩm được ưa thích như: mực, hải sâm... Về trữ lượng từng vùng, vịnh Bắc Bộ có trữ lượng 681.200 tấn, khả năng cho phép khai thác 272.500 tấn/năm; vùng biển miền Trung có trữ lượng 606.400 tấn, khả năng cho phép khai thác 242.600 tấn/năm; vùng biển Ðông Nam Bộ có trữ lượng 2.075.900 tấn, khả năng cho phép khai thác 830.400 tấn/năm; vùng biển Tây Nam bộ có trữ lượng 506.700 tấn, khả năng cho phép khai thác 202.300 tấn/năm.

Trước tiềm năng to lớn đó, năng lực đánh bắt của Việt Nam cũng đã có những chuyển biến nhất định. Ước cả năm 2016 sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 3.076 ngàn tấn, tăng 3% so với năm 2015, trong đó ước khai thác biển đạt 2.876 ngàn tấn, tăng 2,21% so với năm 2015; khai thác nội địa ước đạt 200 ngàn tấn, giảm 1% so với năm 2015. Nếu như năm 2004, tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản là 2,35 tỉ đô la, nhưng đến năm 2016, con số này lên tới 7 tỷ đô la, tổng sản lượng thủy sản đạt hơn 6,7 triệu tấn. Đánh bắt hải sản đã tạo việc làm cho hơn 5 vạn lao động đánh cá trực tiếp và 10 vạn lao động dịch vụ nghề cá.

Tàu cá vỏ thép đánh bắt xa bờ của ngư dân BR-VT. Ảnh: THÀNH HUY
Tàu cá vỏ thép đánh bắt xa bờ của ngư dân BR-VT. Ảnh: THÀNH HUY

ĐỐI MẶT VỚI NHIỀU THÁCH THỨC

Thống kê gần đây cho thấy dấu hiệu dư thừa cục bộ phương tiện đánh bắt hải sản đã xuất hiện, công suất huy động tàu tham gia đánh bắt giảm dần, có tàu chỉ huy động khoảng 50% thời gian hoạt dộng (khai thác cá nổi, tôm biển…). Do nông nghiệp mang lại thu nhập thấp, nhiều nông dân đã tham gia khai thác hải sản và xem đây là phương kế sinh nhai cuối cùng dẫn đến số lượng người tham gia khai thác ở khu vực ven bờ tăng lên, điều này dẫn tới sản lượng khai thác trên một đơn vị cường lực giảm, nguồn lợi ngày càng cạn kiệt.

Để đảm bảo chi phí, các tàu đánh cá buộc phải tăng cường độ khai thác, như tăng số mẻ lưới trong một ngày đêm, tăng số ngày hoạt động, giảm kích thước mắt lưới để tận thu sản lượng, khai thác cả ở những vùng cấm đánh bắt… dẫn đến vấn đề cạnh tranh trong khai thác ngày càng ráo riết và càng tăng nguy cơ huỷ diệt nguồn lợi. Cạnh tranh với các tàu cá nước ngoài đang ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất của các tàu cá trong nước. Thực tế, các tàu đánh cá cỡ lớn của nước ngoài thường xuyên xâm phạm và đánh bắt bất hợp pháp nguồn lợi hải sản của nước ta. Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ đội Biên phòng Việt Nam, hàng năm có 300 – 500 lượt tàu đánh cá nước ngoài hoạt động trái phép ở vùng biển nước ta. Các tàu này ban ngày thường hoạt động xa bờ, ban đêm vào hoạt động ở vùng gần bờ. Riêng khu vực vịnh Bắc Bộ, ước tính lượng hải sản do các tàu nước ngoài đánh bắt khoảng 100.000 tấn/năm.

Môi trường hoạt động khai thác hải sản vốn đã rất khắc nghiệt, song đội tàu cá lại chưa được đầu tư tương thích, ngư dân còn sử dụng nhiều ngư cụ truyền thống do vậy rất khó khăn trong việc kiểm soát cường lực khai thác trên các vùng biển. Trong khoảng 95.000 phương tiện nghề cá được khảo sát, loại dưới 50CV và thuyền thủ công có khoảng 64.500 chiếc, chiếm 68%, số tàu cá lắp máy từ 90CV trở lên có khoảng 13.600 chiếc, chiếm khoảng 14,3%. Cơ cấu đội tàu cá Việt Nam hiện nay, xét về sự tương thích với ngư trường, với nguồn lợi hải sản cho thấy không có sự bất cập lớn, song chất lượng kém của vỏ, máy, các thiết bị an toàn hàng hải đã hạn chế thời gian hoạt động hữu ích trong năm. Với thời gian khai thác thực tế tăng, thời gian tìm kiếm ngư trường tăng, kéo theo chi phí tăng, đồng thời rút ngắn tuổi thọ của các tàu, đặc biệt các tàu cũ, cải hoán, nâng cấp hoặc chất lượng đóng không đảm bảo.

Vấn đề suy giảm đa dạng sinh học cũng khiến cho những loài cá có giá trị kinh tế cao ngày càng trở nên ít ỏi, nguyên nhân một phần do bộ phận nhỏ ngư dân sử dụng những hình thức khai thác huỷ diệt như: chất nổ, chất độc, xung điện, lưới mắt nhỏ hoặc các nghề có hại như te đẩy, lưới đăng, đáy càng làm cho nguồn lợi trở nên cạn kiệt và khó phục hồi hơn. Ngoài ra các hoạt động đô thị hóa, xây dựng các công trình ven biển, xói lở từ lũ lụt, tố lốc cũng khiến cho ô nhiễm vùng biển ngày càng nặng nề đã và đang là thách thức rất lớn đến phát triển nghề cá trên vùng biển Việt Nam hiện nay và trong tương lai.

VĂN HÀO

;
.