123
Xử lý hành vi cưỡng đoạt tài sản - Báo Bà Rịa - Vũng Tàu điện tử
TƯ VẤN PHÁP LUẬT

Xử lý hành vi cưỡng đoạt tài sản

Thứ Ba, 09/01/2018, 19:08 [GMT+7]
In bài này
.

Hỏi: Em gái tôi tên P. năm 20 tuổi có đi cai nghiện ma túy 6 tháng. Trong thời gian này, em gái tôi kết bạn với một người tên là T. cũng đang cai nghiện chung cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy. Năm nay P. 24 tuổi, chuẩn bị lấy chồng và sẽ tổ chức lễ cưới vào cuối năm. Cách đây 3 tháng, người bạn tên T. hỏi mượn P. số tiền 5 triệu đồng. Nay đến hẹn trả nợ thì T. không trả, mà còn yêu cầu P. đưa thêm 5 triệu đồng, kèm lời hăm dọa nếu không đáp ứng thì sẽ thông báo cho chồng sắp cưới của P. biết chuyện trước đây P. nghiện ma túy. Do lo sợ ảnh hưởng đến việc hôn nhân, P. đã chuyển vào tài khoản của T. số tiền 5 triệu đồng. Hành vi của T. đối với em tôi sẽ bị pháp luật xử lý ra sao? (Lê Thị H. phường 3, TP.Vũng Tàu)

Trả lời: Qua trình bày của bạn H. như trên cho thấy, T. đã có hành vi uy hiếp tinh thần đối với P. làm cho P. lâm vào tình thế buộc phải đưa tiền cho mình. Hành vi này có dấu hiệu phạm tội “cưỡng đoạt tài sản”. 

Theo quy định tại Điều 170, Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (có hiệu lực thi hành từ 1-1-2018) về “Tội cưỡng đoạt tài sản”: Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. 

Về sự việc này, nhằm ngăn ngừa T. tái diễn thủ đoạn uy hiếp tinh thần để buộc P. đưa thêm tiền, P. nên trình báo đến cơ quan công an địa phương yêu cầu xử lý. Trong quá trình giải quyết vụ việc, nếu xét thấy đủ yếu tố cấu thành tội phạm, cơ quan công an sẽ khởi tố vụ án để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T. theo quy định tại Điều 170, Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 về “Tội cưỡng đoạt tài sản”.

Trường hợp không xác định T. phạm tội cưỡng đoạt tài sản, không đủ yếu tố cấu thành tội phạm này, cơ quan công an sẽ không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T. Nhưng sẽ áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính, buộc T. trả lại tiền cho P, đồng thời xử phạt T. về hành vi “Dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, tài sản” theo quy định tại điểm C, khoản 2, Điều 15, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình”. Theo đó, với hành vi này, T. sẽ bị xử phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 5 triệu đồng.

Luật gia: THANH MAI

;
.