123
Kỳ 1: Mưu đồ thâm độc - Báo Bà Rịa - Vũng Tàu điện tử
PHÁ TRẬN THỦY LÔI VÀ BOM TỪ TRƯỜNG

Kỳ 1: Mưu đồ thâm độc

Thứ Hai, 04/08/2014, 06:46 [GMT+7]
In bài này
.

Cách đây 47 năm, Hải quân nhân dân Việt Nam và quân dân miền Bắc đã đập tan mưu đồ của đế quốc Mỹ dùng thủy lôi và bom từ trường phong tỏa, ngăn chặn sự chi viện vũ khí đạn dược và lực lượng của ta cho chiến trường miền Nam tại các cửa biển miền Bắc với qui mô lớn chưa từng có trong lịch sử. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tài chiến lược trên biển, Hải quân nhân dân Việt Nam cùng quân dân miền Bắc đã phá thế trận thủy lôi của địch, góp phần quan trọng cho Đại thắng Mùa Xuân năm 1975. Nhân kỷ niệm 50 năm ngày Hải quân nhân dân Việt Nam đánh thắng trận đầu, xin giới thiệu bài viết “Phá trận thủy lôi và bom từ trường”.

Máy bay Mỹ thả thủy lôi ở Cửa Việt, Quảng trị năm 1967. Ảnh: T.L
Máy bay Mỹ thả thủy lôi ở Cửa Việt, Quảng trị năm 1967. Ảnh: T.L

Trước nguy cơ thất bại của chiến lược “Việt Nam hóa” ở miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ điên cuồng tiến hành phong tỏa bằng thủy lôi và bom từ trường ở nhiều cửa biển, sông, lạch trên nhiều tỉnh thành miền Bắc Việt Nam với mục đích: Ngăn chặn chi viện vũ khí đạn dược cho chiến trường miền Nam, uy hiếp các hoạt động vận chuyển, làm ăn trên sông biển của nhân dân ta, hòng gây sức ép chính trị với ta trên bàn hội nghị Paris; ngăn chặn các hoạt động của Hải quân nhân dân Việt Nam. Chúng xác định: Nếu phong tỏa các ngõ sông, đường biển, bến cảng miền Bắc bằng thủy lôi và bom từ trường, chắc chắn sẽ chặn đứng được các cuộc hành quân chở vũ khí của ta từ Bắc vào Nam, cũng như các hoạt động trên sông nước.

Với ý đồ nham hiểm ấy, bất chấp luật pháp và tập quán quốc tế, bắt đầu từ năm 1967, Mỹ mở cuộc phản công chiến lược trên chiến trường miền Nam, đưa cuộc chiến tranh cục bộ lên đỉnh cao. Tổng thống Mỹ Giôn xơn bí mật cho rải thủy lôi ở các cửa sông, bến cảng ở miền Bắc. Đợt đầu chúng chọn các cửa sông Mã, sông Gianh, cửa Hội, Nhật Lệ... là những đầu mối giao thông quan trọng của ta lúc bấy giờ. Từ ngày 26-2 đến ngày 21-5-1967, Mỹ dùng máy bay A6A lén lút thả 160 quả thủy lôi.

Nắm bắt được mưu đồ của Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Quân chủng Hải quân đã tổ chức một lực lượng bộ đội Đặc công Hải quân, Công binh Hải quân phối hợp với nhân dân và bộ đội địa phương các quân khu tiến hành rà phá, trục vớt, tháo gỡ thủy lôi, mở luồng cho tàu thuyền đi lại, vận chuyển hàng trăm chuyến vũ khí đạn dược vào miền Nam an toàn.

Những chuyến tàu chở vũ khí đạn dược từ Bắc vào Nam cứ nối đuôi nhau hải trình an toàn hết ngày này qua ngày khác. Mỹ nhận định: “Kế hoạch thả thủy lôi chưa đủ sức mạnh tiêu diệt, cần phải thay đổi chiến lược ngay lập tức”. Lệnh của Giôn xơn “hoán đổi” thủy lôi bằng bom từ trường DST36 - một loại bom có sức công phá hủy diệt lớn, đồng thời chúng mở chiến dịch đánh phá phong tỏa cảng Hải Phòng bằng máy bay, kết hợp rải hàng ngàn tấn bom từ trường trên các luồng sông, cửa biển, bến phà... tạo thành vành đai ngăn chặn các phương tiện vận chuyển đường thủy. Trước tình thế ấy, bộ đội Hải quân Việt Nam một lần nữa bước vào cuộc chiến đấu mới. Bằng kinh nghiệm tìm mò, phát hiện, trục vớt, các phân đội Đặc công và Công binh Hải quân đã ngày đêm bám biển, bí mật tháo gỡ bom từ trường tại các cửa sông Nhật Lệ, sông Gianh, sông Mã, rìa cảng Hải Phòng.

Nhận thấy “bom từ trường” cũng không làm lung lay ý chí của “cộng sản”, Mỹ bàn tính kế hoạch “cộng hưởng” tức là vừa ném bom, vừa rải mìn. Với kế hoạch “cộng hưởng”, đầu năm 1972, Tổng thống Ních-xơn vội vã huy động không quân, hải quân tổ chức Đội đặc nhiệm số 11, mở chiến dịch ném bom, rải mìn ồ ạt với trận mở màn lúc 7 giờ 30 phút ngày 9-5-1972 đồng loạt xuống các cửa sông biển, cảng quan trọng khắp miền Bắc. Để đánh lừa các tàu thuyền đang bốc dỡ hàng tại cảng Hải Phòng, Mỹ công bố “Thời gian an toàn của thủy lôi là 3 ngày” với mục đích để thúc giục tàu nước ngoài đang bốc dỡ hàng tại Hải Phòng phải nhanh chóng rời cảng và sẽ bị phá hủy ngay sau đó khi vướng phải bom từ trường đã thả trước của Mỹ. Ngày 11-5-1972, máy bay Mỹ tiếp tục rải mìn bịt luồng ra vào các cảng Hồng Gai, Cẩm Phả, các cửa sông và vùng ven biển miền Bắc nước ta. Từ ngày 9-5-1972 đến tháng 1-1973, địch đã thả ở 8 tỉnh, thành miền Bắc với 166 điểm, gồm hàng vạn quả bom từ trường, thủy lôi, mìn các loại; diện tích bị phong tỏa ở các khu vực trọng điểm gần 478 km, suốt từ Quảng Ninh, Hải Phòng đến cửa Tùng, cửa Việt...

Ông Nguyễn Xuân Trình, nguyên chiến sĩ Tàu Không số Lữ đoàn 125 Hải quân cho biết: “Mỹ thả bom từ trường rất nhiều loại, có loại nổ khi tiếp xúc với bóng tối, có loại nổ do cộng hưởng từ, có loại nổ do sức ép của nước. Để thông luồng sông cửa biển, bộ đội Hải quân tiến hành rà phá bằng nhiều cách như rà theo dạng kéo lưới, hoặc phát từ trường nam châm, khi không còn cách nào phá hủy được thủy lôi và bom từ trường dưới nước, bắt buộc ta phải mò vớt lên và nghiên cứu táo ngòi nổ bằng phương pháp thủ công”.

MAI THẮNG

Kỳ 2: Người nghiên cứu rà phá bom mìn

;
.