123
Kỳ 3: "Mở mồm" thủy lôi - Báo Bà Rịa - Vũng Tàu điện tử
PHÁ TRẬN THỦY LÔI VÀ BOM TỪ TRƯỜNG

Kỳ 3: "Mở mồm" thủy lôi

Thứ Tư, 06/08/2014, 06:40 [GMT+7]
In bài này
.

Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam in đậm nét công lao to lớn của các chiến sĩ rà phá thủy lôi và bom từ trường của Mỹ từ năm 1967 đến năm 1972, trong đó đại úy Trương Thế Hùng, nguyên Đội trưởng Đội 8 Công binh Hải quân được nhắc đến với tất cả sự trân trọng, niềm tự hào của người lính công binh trên chiến trường sông nước.

Đại úy Trương Thế Hùng đang tháo gỡ quả thủy lôi MK-52 tại Nam Đàn, Nghệ An tháng 3-1967 (ảnh tác giả chụp lại từ ảnh tư liệu).
Đại úy Trương Thế Hùng đang tháo gỡ quả thủy lôi MK-52 tại Nam Đàn, Nghệ An tháng 3-1967 (ảnh tác giả chụp lại từ ảnh tư liệu).

Có “duyên” với thủy lôi

Cho đến bây giờ, đại úy Trương Thế Hùng không thể nào quên được những ngày cùng đồng đội rà phá thủy lôi trên nhiều lạch sông cửa biển. Ông bảo, “đó là những ngày đẹp nhất trong đời quân ngũ, để rồi khi giã từ, tôi thấy mình luôn tự hào. Có lẽ những ngày trầm mình dưới sông cùng đồng đội vớt thủy lôi, phá bom từ trường không thể nào quên được”.

Lịch sử Hải quân Việt Nam đã ghi lại: Đêm 27 rạng ngày 28/2/1967, Mỹ đã sử dụng nhiều lần các loại máy bay bao gồm: A6A, A3B, A4, A6, A7 tiến hành thả một số lượng lớn thuỷ lôi MK-50, MK-52 và bom từ trường DST-36 mang đầu nổ MK-42 xuống hầu hết các cửa sông ở Khu IV mà trọng điểm là 4 cửa sông lớn: sông Mã (Thanh Hóa), sông Gianh (Quảng Bình), cửa Hội (Nghệ An), sông Nhật Lệ (Quảng Bình) và 20 cửa sông khác ở miền Bắc, nhằm bịt lấp việc vận chuyển vũ khí đạn dược từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam. Để hóa giải những quả thủy lôi, khơi thông luồng lạch, không còn cách nào khác là phải bắt chúng “mở miệng”. Lúc bấy giờ ông Trương Thế Hùng là một trong những sĩ quan được đào tạo cơ bản về vũ khí dưới nước nên Bộ Tư lệnh Hải quân quyết định chọn ông và 2 cộng sự là ông Trần Thanh Hoài và ông Đào Kỳ vào Khu IV thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu chiến trường và làm nhiệm vụ tiền trạm chuẩn bị đưa đơn vị vào.

Nhận lệnh Quân chủng giao, đại úy Hùng và 2 cộng sự lên đường vào Khu IV bằng xe đạp, vượt quãng đường hơn 400 cây số từ Hải Phòng vào Nghệ An. Tại đây, ông biết bộ đội công binh tỉnh Quảng Bình mới vớt được 2 quả thủy lôi ở mép sông gần phà sông Gianh. Sau khi xin ý kiến chỉ đạo được nghiên cứu tháo gỡ 2 quả bom, ngay ngày hôm sau, ông Hùng cùng đồng đội vượt đèo Ngang vào Quảng Bình nắm tình hình. Đúng lúc ấy thì gặp xe tải của tỉnh Quảng Bình chở 2 quả thủy lôi ra Nghệ An với lý do bảo đảm an toàn cho sông Gianh và các trận địa pháo phòng không không quân ở đây. Biết ý định của bộ đội công binh Quảng Bình, đại úy Hùng đề nghị “Khi chở ra Nam Đàn (Nghệ An), các đồng chí nhớ để 2 quả thủy lôi cách xa nhau kẻo tự chúng sinh từ trường phát nổ”. Lúc đó, ở các cửa sông, biển khu vực gần sông Gianh (Quảng Bình) đang là tâm điểm dội bom B52 của Mỹ. Nhiều làng mạc phải sơ tán, nhiều trận địa pháo cao xạ phải bí mật dời đi an toàn, xây trận địa mới để tiếp tục chiến đấu, tránh Mỹ rải bom.

Nếu hy sinh cũng vì Tổ quốc

Tháo gỡ thủy lôi là công việc không nặng nhọc nhưng vô cùng nguy hiểm, đòi hỏi phải thận trọng từng li từng tý, chỉ cần sơ suất là gây nổ, dĩ nhiên là hy sinh. “Dụng cụ phá thủy lôi lúc đó là gì? Và các cách phá thế nào?”. Cựu binh Trương Thế Hùng nhớ lại: “Phá bằng dụng cụ chữa xe đạp chứ thực tình lúc đó có máy móc hiện đại nào đâu. Trong điều kiện ấy, kể cả một cái đinh nhỏ cũng trở thành dụng cụ, dĩ nhiên việc tháo gỡ trên cơ sở khoa học và tính toán kỹ càng. Tôi xác định, hai quả thủy lôi được vận chuyển đoạn đường khá xa đã có sự xây xát vẫn không tự nổ được, thì sự va chạm từ bàn tay cũng khó làm cho nó kích thích. Mặc khác, nó không nằm dưới nước nên không có sức ép của nước, nó ở trạng thái bình thường, đó là cơ sở để chúng tôi tháo gỡ”. Sau khi xác định vị trí tháo gỡ ở từng vị trí con ốc, ông Hùng và hai đồng đội bắt đầu dùng cà lê vặn nhích từng ly một. Nín thở, hồi hộp, bình tĩnh. Phút giây căng thẳng ấy, trong tâm khảm các chiến sĩ nhủ thầm: “Nếu chẳng may thủy lôi nổ, mình hy sinh thì đó cũng là sự hy sinh vì Tổ quốc”. Chính điều ấy đã giúp các anh có trạng thái cân bằng không hề run sợ. Khi con ốc số 1 đầu tiên được tháo khỏi mồm thủy lôi, ba chiến sĩ trào nước mắt. Đại úy Hùng bảo: “Đầu xuôi đuôi lọt. Mày đã mở mồm thì nhất định sẽ cho mày há to”. Như lời động viên tinh thần, ba chiến sĩ tiếp tục tháo những con ốc còn lại một cách thận trọng an toàn.

Quả thủy lôi thứ nhất được tháo gỡ, quả thủy lôi thứ hai MK-50 cũng được tiến hành với các thao tác tương tự. Hơn 2 giờ đồng hồ nín thở trôi qua, hai quả thủy lôi của Mỹ được Hùng và đồng đội bắt phải “mở mồm”. “Đó là hai quả thủy lôi đầu tiên được tháo gỡ. Nó không chỉ đánh dấu bước đầu làm chủ vũ khí tối tân của địch, mà còn là cơ sở để nghiên cứu tính năng tác dụng kỹ chiến thuật và nguyên lý hoạt động thủy lôi của địch”, ông Hùng chia sẻ.

MAI THẮNG

Kỳ 4: Cánh tay thép sá gì “giặc nước”

;
.