Khám phá 2 "quái vật" thép di động của phát xít Đức trong Thế chiến II

Thứ Sáu, 11/08/2017, 22:41 [GMT+7]
In bài này
.
Pháo hạng nặng Krupp K-5.
Pháo hạng nặng Krupp K-5.

Siêu pháo Schwerer Gustav cùng với pháo Krupp K-5 là những nỗ lực cuối cùng của việc sử dụng tàu hỏa bọc thép trên chiến trường. Trong những năm sau đó, tên lửa, vũ khí hạt nhân và máy bay ném bom hạng nặng đã thay thế hoàn hảo.

PHÁO HẠNG NẶNG K-5

Tàu hỏa bọc thép từng thống trị chiến trường trong hơn 100 năm, khi những khẩu pháo nhả đạn vào vị trí quân địch còn binh lính đổ bộ xuống từ các toa tàu. Thế nhưng đến Thế chiến II, những thay đổi về  công nghệ cùng sự xuất hiện của xe tăng, ô tô và máy bay đã thay đổi căn bản cục diện chiến trường. Mặc dù vậy, phát xít Đức vẫn duy trì lối suy nghĩ cũ về vai trò của những đoàn tàu bọc thép trong chiến đấu và cho ra đời một khẩu pháo hạng nặng đặt trên đường ray có lên là Krupp K-5.

Nguyên mẫu phát triển của pháo Krupp K-5 là khẩu pháo từ Thế chiến I của Đức có tên gọi Paris-Geschütz với cỡ nòng 211mm và tầm bắn lên đến 130km nhưng có độ chính xác vừa phải. Mỗi viên đạn pháo có trọng lượng khoảng hơn 100kg và trần bay tối đa là 42.3km. Vào năm 1918, viên đại pháo của Paris-Geschütz bắn trúng một nhà thờ tại Paris và làm 91 người thiệt mạng. Người dân Pháp lúc ấy tưởng rằng phía Đức sử dụng khinh khí cầu Zeppelin để thả bom. Sau Thế chiến I, những khẩu pháo lớn như Paris-Geschütz bị cấm sản xuất. Chính quyền Đức lúc bấy giờ không tuân thủ lệnh cấm này.

Tập đoàn Krupp nâng đường kính nòng pháo từ 211mm lên 283mm. Do độ chính xác được nâng lên, tầm bắn của K-5 giảm xuống còn 64km, nhưng vẫn hết sức ấn tượng. Đầu năm 1936, Krupp hoàn thiện hơn 20 khẩu pháo K-5.Giống như Paris-Geschütz, pháo K-5 chỉ có thể bắn thẳng ra phía trước, đòi hỏi phải có những đoạn đường ray cong xung quanh để chỉnh hướng bắn.Ngoài ra, phải mất cả chục phút mới có thể hoàn thành công việc nạp đạn, nhưng dù sao K-5 cũng giành được một vài thành quả.

Quân đội Mỹ và Đồng minh từng chạm trán hai khẩu pháo K-5 có biệt danh Robert và Leopold vào năm 1944 khi đổ bộ lên vùng Anzio, Italia. Hai khẩu pháo nặng 218 tấn này phá hủy hơn 1.500 tấn đạn dược, gây ra một số thiệt hại cho tàu chiến.

SIÊU PHÁO SCHWERER GUSTAV

Ngoài Krupp K-5, ngành CN quốc phòng của Đức trong những năm 1930-1940 còn chế tạo thành công 2 khẩu pháo khổng lồ mang tên Schwerer Gustav (Gustav hạng nặng) theo chỉ thị của Hitler. Năm 1937, siêu pháo Schwerer Gustav đầu tiên ra đời và chiếc thứ 2 vào năm 1941 - Đây cũng là siêu pháo cuối cùng. Có nòng pháo đường kính lên đến 800mm và chiều dài nòng pháo là 32,5m. Khẩu pháo khổng lồ này có chiều dài 47,3m và trọng lượng lên đến 1.350 tấn. Sử dụng 2 loại đạn là đạn nổ phân mảnh có trọng lượng 4,8 tấn với tầm bắn tối đa 48km và đạn xuyên giáp có trọng lượng 7,1 tấn với tầm bắn tối đa 38km. Phải mất từ 30 đến 45 phút siêu pháo mới có thể bắn được một phát đạn, trên thực tế mỗi ngày khẩu pháo chỉ bắn được khoảng 14 viên đạn. Có 2 tiểu đoàn pháo phòng không được bố trí để bảo vệ khẩu pháo này. Cần một hệ thống đường ray đôi đặc biệt để di chuyển pháo.

Khi quân đội phát xít tấn công Liên Xô, Sevastopol (còn gọi là Sebastopol, là một thành phố cảng nằm về phía tây nam bán đảo Krym) trở thành mục tiêu hoàn hảo cho “quái vật” Schwerer Gustav. Nhưng việc triển khai khẩu pháo khổng lồ này thực tế là một cơn ác mộng. Để vận chuyển Schwerer Gustav đến Krym, quân đội phát xít phải sử dụng đến 25 đoàn tàu và phải huy động khoảng 3.800 người để thiết lập trận địa pháo trong 4 tuần.

Để vận hành Schwerer Gustav lại cần một đội gồm 250 pháo thủ và kỹ sư, để lắp ráp khẩu pháo này cần 1.250 người gồm kỹ sư, chuyên gia và lính bảo vệ và thời gian lắp ráp lên đến 3 ngày. Ngoài ra, khẩu pháo Schwerer Gustav chỉ bắn được 14 phát mỗi ngày, sau 300 phát bắn lại cần phải thay nòng pháo.

Schwerer Gustav bắn tổng cộng 48 phát đạn vào Sevastopol và phần lớn đạn pháo nhắm vào các pháo đài của Liên Xô. Tính ra, Berlin ném ra ngoài cửa sổ hơn 1.000 tấn thép, hàng nghìn giờ lao động và hàng triệu mác chỉ cho 48 phát bắn.

NGUYỄN TIẾN

;
.