|
 |
|
Khám thai định kỳ, thường xuyên để phát hiện sớm những bất thường. Ảnh: TL | Hưởng ứng tuần lễ dinh dưỡng và phát triển (từ ngày 16 đến 23-10-2008) do Bộ Y tế phát động với chủ đề: “Lựa chọn và sử dụng thực phẩm đa dạng, an toàn vệ sinh, đảm bảo an ninh dinh dưỡng và phòng tránh bệnh tật”, Chuyên mục “Truyền thông - Giáo dục sức khỏe” xin cung cấp một số thông tin quan trọng về dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai.
Có thể nói, không một phụ nữ nào không băn khoăn, trăn trở khi mang thai “mình phải ăn gì để con mình sau này được khoẻ mạnh, thông minh”. Trong khi đó họ lại luôn gặp phải những chuyện rắc rối mà ta thường gọi là “ốm nghén” như: chán ăn, sợ thức ăn, thậm chí ói (nôn) hết những gì mà cố ăn, hoặc lại chỉ thích ăn một loại thức ăn đặc biệt nào đấy.
Người ta thường chia sự phát triển của thai kỳ theo quý (tức 3 tháng một), như 3 tháng đầu, 3 tháng giữa và 3 tháng cuối, vì nó có liên quan đến vấn đề sức khoẻ của cả mẹ và con, đồng thời đặc biệt có liên quan tới sự ăn uống của mẹ. 3 tháng đầu là thời kỳ phôi thai được hình thành, chủ yếu là sự phân chia các tế bào, để hình thành cơ quan, và ít phát triển về cân nặng. Lúc này người mẹ bị nghén nhiều nhất vì có sự thay đổi về nội tiết cơ thể nên ăn ít và tăng cân rất ít (khoảng 1 kg), thậm chí không tăng hay sụt cân. Ba tháng giữa là lúc thai bắt đầu phát triển và ổn định, mẹ hết “nghén”, ăn được nhiều hơn và bắt đầu tăng cân (khoản 4 – 5 kg). Ba tháng cuối là lúc thai tăng trọng rất nhanh và mẹ chuẩn bị cho sự sinh nở và nuôi con bằng sữa mẹ nên tăng cân nhiều (khoảng 5 – 6 kg).
Để chuẩn bị cho “mẹ tròn con vuông” thì bà mẹ cần phải ăn như thế nào?
Người mẹ cần ăn đủ các loại thực phẩm, không nên ăn thiên lệch về một loại thức ăn nào. Theo khuyến cáo của Viện dinh dưỡng Quốc gia, ít nhất mỗi ngày bà mẹ ăn được 35 loại thực phẩm khác nhau (1 tô phở có 10 loại thực phẩm: bánh phở, thịt, mỡ, rau thơm, giá, rau om, ngò gai, tương, mắm…). Cụ thể người mẹ nên ăn mỗi bữa thêm 1 chén hoặc mỗi ngày thêm 1 bữa (mỗi bữa nên ăn đủ cả 4 nhóm thực phẩm là bột, đạm, mỡ, rau). Thức ăn là đa dạng, nhưng nên ưu tiên các loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao như đạm động vật: thịt, cá, trứng, sữa, hải sản, và những đạm thực vật quý như đậu đỗ… Những loại thực phẩm này ngoài cung cấp chất đạm còn cung cấp chất vi lượng như vitamin A, D, E, K, C, B, sắt, đồng, kẽm… và muối khoáng (canxi) giúp cho sự phát triển của thai nhi.
|
Để bảo đảm cho người mẹ tăng đủ 10 – 12 kg, thì người mẹ cần ăn nhiều hơn bình thường về tất cả các chất dinh dưỡng. Ví dụ: mỗi ngày năng lượng cần ăn nhiều hơn 350 kcal, protein (đạm) (15g), vitamin A (600mg), B1 (0,2 mg), B2(0,2 mg), PP (2,3mg), C (10 mg), muối khoáng (Canxi: 1000 mg, Sắt: 30 mg). | Một số quan niệm sai lầm về dinh dưỡng khi mang thai của các bà mẹ cần tránh là ăn nhiều thì con to, khó sinh. Sự sinh khó hay dễ còn phụ thuộc vào kích thước khung chậu người mẹ. Các bà mẹ cần hiểu rằng, mang thai là đã nuôi dưỡng một con người mới nên nhất thiết phải ăn nhiều hơn bình thường.
Một số bà mẹ lại kiêng hẳn một loại thức ăn nào đấy mà mình bị ói khi ăn lần đầu lúc mang thai, như vậy có nguy cơ thiếu một loại chất dinh dưỡng nào đó. Có thể bà mẹ bị ói do nhiều nguyên nhân khác nhau (thức ăn không tươi, hoặc “nghén” nhất thời) chứ không hoàn toàn là do không chịu thức ăn đó. Để giải quyết tình trạng ói, bà mẹ có thể tập lại như ăn ít một xem sao. Nếu ăn được nên ăn tiếp lần sau, nếu không thì cần lời khuyên của bác sĩ dinh dưỡng để tìm thức ăn thay thế.
Một số bà mẹ lại nhịn ăn do “nghén” nhiều (sợ ăn sẽ bị ói). Thực ra thì dù có ói sau khi ăn đi nữa thì cũng không ói tất cả những thức ăn đã ăn vào, do đó nên ăn để thai không bị thiếu chất dinh dưỡng. Bà mẹ nên ăn ít một và ăn nhiều lần trong ngày.
Một số bà mẹ lạm dụng thuốc bổ khi mang thai, cho rằng thuốc có thể thay thế thức ăn. Tuy nhiên, thuốc bổ không cung cấp năng lượng mà chỉ cung cấp vitamin và muối khoáng. Đặc biệt vai trò của một số vitamin trong sự phân chia tế bào (trong 3 tháng đầu) chưa rõ. Nhưng một số nghiên cứu đã chứng minh vitamin A liều cao có thể gây dị dạng thai. Như vậy, trong 3 tháng đầu tuyệt đối không được dùng thuốc khi không có chỉ định của bác sĩ.
Một chế độ dinh dưỡng đầy đủ và một tinh thần thoải mái chắc chắn các bà mẹ sẽ có một đứa con khoẻ mạnh và thông minh.
Bs. Nguyễn Văn Lên
|
Qua những nhu cầu và một số vấn đề bà mẹ hay gặp trên, các nhà dinh dưỡng khuyến cáo chế độ ăn cho các bà mẹ như sau:
1. Ăn đầy đủ 4 nhóm thức ăn, không kiêng cữ một loại thức ăn nào. Đặc biệt chú ý đến sữa, thịt, cá, tôm, cua, trứng và các loại đậu đỗ. Một ngày uống ít nhất 300 ml sữa, nếu không uống sữa được thì nên ăn sữa chua hay tôm cả vỏ và cua đồng để bổ sung can xi cho trẻ.
2. Nếu ói thì chia nhỏ bữa ăn: ngày ăn 6-7 cữ, ăn những thức ăn có mùi vị mà mình ưa thích (không có màu hoá học).
3. Trong 6 tháng cuối phải ăn nhiều hơn, ít nhất là nhiều hơn từ 10-30% lượng thức ăn trong 3 tháng đầu. Tức là 3 tháng đầu ăn 1 bữa 2 chén, thì 6 tháng cuối ăn 1 bữa 3 chén.
4. Bình thường thì người mẹ tăng cân hơn 10kg, nhưng nếu mẹ bị béo phì thì chỉ cần tăng 6kg và nếu song thai (thai đôi) thì phải tăng 16-20 kg.
5. Không tự động uống thuốc bổ khi không có chỉ định của bác sĩ.
6. Cần đến khám bác sĩ khi có các biểu hiện sau: Tăng cân quá ít (dưới 1kg/tháng đối với người bình thường và dưới 0,5kg/tháng đối với người béo phì) hoặc sụt cân (trên 0.5kg/tháng); tăng cân quá nhiều (trên 3kg/tháng) hoặc bị mệt mỏi xanh xao, loá mắt, chóng mặt, chuột rút hoặc bị dị ứng thức ăn hay bà mẹ ăn chay cũng như mẹ bị béo phì, tiểu đường, bướu cổ, suy dinh dưỡng. |
|