 |
|
Quy hoạch sử dụng đất chưa hợp lý dẫn đến việc đất nông nghiệp đang bị thu hẹp quá nhanh, đe dọa đến vấn đề an ninh lương thực quốc gia. |
Hệ thống quy hoạch kế hoạch sử dụng đất chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, tính khả thi thấp; quản lý đất đai chưa thực sự trở thành pháp lệnh trong các cơ quan tổ chức và ý thức của người quản lý; việc thu hẹp diện tích đất nông nghiệp để phát triển công nghiệp, dịch vụ có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh lương thực quốc gia trong thời gian tới... Những tồn tại này là những tồn tại về quy hoạch trong sử dụng đất vừa qua đang dần được khắc phục tại Dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai.
Ông Vũ Duy Thái, Chủ tịch Hiệp hội Công thương TP. Hà Nội đánh giá, một trong những công cụ quản lý đất đai hiệu quả là quy hoạch. Nhưng quy hoạch của chúng ta không xuất phát từ yêu cầu thúc đẩy phát triển đồng bộ nền kinh tế và đời sống của dân cư, mà xuất phát từ nhu cầu sử dụng của 4 cấp theo địa giới hành chính. Vì vậy, khó tránh khỏi nhu cầu ảo do lợi ích cục bộ riêng tư, kết cục là có quá nhiều quy hoạch thiếu tính thực tế, bị dư luận phản đối. Do đó, cần đổi mới tư duy về xây dựng quy hoạch và quản lý quy hoạch. Phải coi đó là một ngành khoa học tổng hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội dài hạn, manh tính lâu dài ổn định và hàm chứa nhiều yếu tố về xã hội, môi trường nên rất cần có sự tham gia từ đầu của cộng đồng, của các ngành khoa học.
Ngoài ra việc lập quy hoạch theo 4 cấp hành chính không những thiếu đồng bộ giữa các cấp mà còn thiếu sự thống nhất giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng đô thị. Vì vậy, lần sửa đổi bổ sung này có một chương riêng về quy hoạch đô thị, trong đó cần xác định các vấn đề: chỉ giới phát triển, chỉ giới đất lưu không... để quản lý và khai thác đất đô thị như một nguồn vốn khác trong nền kinh tế thị trường.
Về vấn đề quy hoạch “treo”, Dự thảo và Điều 29 cũng chưa đưa ra và chỉ rõ cách thức giải quyết tình trạng quy hoạch “treo” hiện đang rất phổ biến trên cả nước. Vì vậy nên quy định thời hạn gia hạn đối với quy hoạch “treo”, và nên có thời hạn để người sử dụng đất được phục hồi toàn quyền sử dụng đất nếu quy hoạch chưa thực thi. Ngoài ra, cần xác định rõ trách nhiệm của các bên liên quan nếu để xảy ra tình trạng này để ràng buộc về trách nhiệm pháp luật.
Theo ông Phạm Đình Cường, Cục trưởng Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính), Dự thảo đã có một số sửa đổi, bổ sung theo hướng xác định định mức diện tích khống chế đối với một số loại đất có ý nghĩa chiến lược như đất trồng lúa nước, đất rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng... là rất cần thiết. Nhưng trong tình hình an ninh lương thực thế giới đang bị đe doạ, chúng ta sẽ không kịp trở tay nếu không đặt vấn đề này lên hàng đầu trong lần sửa đổi bổ sung này. Bởi, hiện nay chúng ta có 4,13 triệu ha đất trồng lúa nước, trong khi đó để bảo đảm an ninh lương lực cho 120 triệu dân thì cần ít nhất phải có 4 triệu ha. Nhưng trên thực tế 7 năm vừa qua chúng ta đã lấy 0,5 triệu ha diện tích đất trồng lúa cho phát triển công nghiệp, và để trở thành một nước công nghiệp thì những năm tới chúng ta cần phải lấy từ 1,5 đến 2 triệu ha nữa. Do đó thay vì quy định định mức diện tích khống chế đối với đất nông nghiệp như trong dự thảo, cần phải quy định diện tích đất trồng lúa cụ thể mỗi tỉnh, mỗi huyện phải có là bao nhiêu. Tránh tình trạng bỏ ngỏ việc thống kê diện tích đất nông nghiệp ở các địa phương như hiện nay.
Bài, ảnh: Trần Lan
|