|
 |
|
Số lao động đã qua đào tạo không nhiều, gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng và hiệu quả sản xuất. (Ảnh có tính chất minh họa ) | Nguồn nhân lực là một trong các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (DN), nhất là trong quá trình hội nhập WTO. Mặc dù Việt Nam có một nguồn nhân lực khá dồi dào, nhưng số lao động hoạt động trong nền kinh tế hiện nay mới chỉ có 25% qua đào tạo, đặc biệt là thiếu lao động trình độ cao, phân bổ lại không đồng đều...
Lao động Việt Nam tập trung chủ yếu ở nông thôn, lao động thành thị chỉ chiếm 25,37%. Một trong những điểm bất cập rõ nhất là cấu trúc lao động, cơ cấu lực lượng lao động đã qua đào tạo. Đơn cử như ngành dệt may. Lực lượng lao động của ngành này hiện vẫn còn những hạn chế như: Thiếu nhiều lao động có trình độ cao và có khả năng làm việc trong môi trường cạnh tranh cao, từ cán bộ kỹ thuật công nghệ đến thương mại và quản trị DN, phân bổ lực lượng lao động trong ngành dệt may chưa hợp lý; Có sự chênh lệch khá lớn giữa các DN về lương bổng và điều kiện làm việc…
Đối với ngành du lịch - ngành có tính liên ngành và tính xã hội hóa cao, do vậy lao động của ngành không những phải được đào tạo về chuyên môn mà còn phải được đào tạo về văn hóa, ngoại ngữ, kinh tế, tài chính, kiến trúc, địa lý, lái xe. Nhưng hiện tại đang có sự mất cân đối khá rõ trong phân bổ nguồn nhân lực du lịch: lao động du lịch ở miền Nam chiếm 50%, miền Bắc là 40% còn lại 10% là lao động tại miền Trung. Mặc dù miền Trung là nơi tập trung nhiều di sản văn hóa thế giới, với bờ biển và bãi tắm đẹp, sự đa dạng của phong tục, tập quán truyền thống, văn hóa... có khả năng thu hút và hấp dẫn du khách thập phương. Bên cạnh đó, do thiếu hụt lao động có chuyên môn, nên dù có rất nhiều cơ hội phát triển, ngành du lịch vẫn chưa tạo được nhiều bứt phá như các ngành dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm…
Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến khả năng hấp thụ thấp vốn FDI đó là hiện trạng phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam. Trong khi vốn FDI và dòng vốn đầu tư trong nước tập trung chủ yếu vào các ngành sản xuất, kinh doanh bất động sản và các ngành dịch vụ như ngân hàng, bảo hiểm, du lịch... thì vốn đầu tư vào các lĩnh vực y tế, giáo dục lại rất hạn chế.
Hiện tại, khả năng đáp ứng nhu cầu lao động của các DN FDI thuộc các ngành có nhu cầu lao động cao (như dệt may, sản xuất thủy sản) là khá khó khăn đối với các vùng kinh tế, thậm chí đang có xu hướng giảm dần. Trong khi tại đây lượng vốn FDI chiếm đa số. Đáng lo ngại là có nhiều tín hiệu về sự dịch chuyển mạnh lao động làm việc trong các DN FDI ở khu vực Đông Nam bộ và nhất là lao động có trình độ cao ra khỏi các DN FDI (có thể để giữ các vị trí cao trong khu vực tư nhân). Trong khi lượng lao động bổ sung từ các khu vực khác vào lại rất thấp, do khác biệt về văn hóa và nơi cư trú.
Với tốc độ cam kết vốn FDI hiện nay, nếu không có những chuẩn bị về nguồn lực lao động và có chính sách kinh tế hợp lý, khuyến khích dịch chuyển lao động có tay nghề thì vị thế của Việt Nam dưới con mắt các nhà đầu tư nước ngoài rất dễ bị ảnh hưởng.
Theo báo cáo thường niên DN Việt Nam năm 2007 vừa được Phòng thương mại và Công nghiệp VN (VCCI) công bố, cùng với xu hướng tăng của cơ hội kinh doanh, 6 ngành sản xuất chủ chốt được nghiên cứu (dệt may, bảo hiểm, xây dựng, sản xuất thực phẩm, ngân hàng và khu vực FDI) đều có nhu cầu ngày càng tăng về lao động việc làm, tuy nhiên ở các mức độ rất khác nhau. Các ngành xây dựng, dệt may và sản xuất thực phẩm vẫn sẽ thu hút một lượng lớn lao động. Nhu cầu lao động có tay nghề cao của những ngành này nhỏ hơn so với các ngành còn lại, vì vậy trong những năm tới, khả năng đáp ứng về nguồn cung lao động của thị trường Việt Nam là có thể.
Cũng theo nghiên cứu, đã có những dấu hiệu chững lại về lượng lao động làm việc trong các ngành sản xuất thực phẩm, và đặc biệt trong ngành xây dựng. Do vậy, dù vẫn tạo ra thêm nhiều công ăn việc làm, nhưng dự báo sự suy giảm lao động làm việc trong những ngành này là điều đáng quan tâm...
Theo ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI, muốn thu hút đầu tư trong và ngoài nước, duy trì gia tăng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trong những năm tới thì phải đầu tư thật tốt nguồn nhân lực cho các DN. Trong điều kiện ngân sách hiện nay, nếu chỉ trông vào sự đầu tư của Nhà nước thì sẽ rất hữu hạn. Vì vậy phải đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục có sự tham gia của các DN. Chỉ khi nào các DN vừa là nơi tiếp nhận nguồn lao động, vừa tham gia tích cực vào quá trình đào tạo mới có thể tạo nên sự đột phá về quy mô và chất lượng đào tạo.
Bài, ảnh: Mai Vinh
|