|
 |
|
Mua bán chứng khoán tại các đại lý giao dịch chứng khoán là một bảo đảm pháp lý tốt nhất cho các nhà đầu tư. Trong ảnh: Các nhà đầu tư trong một phiên giao dịch tại đại lý chứng khoán Bình An. Ảnh: Thu Nhi | Tòa án Nhân dân tỉnh BR-VT vừa buộc một người bán cổ phiếu phải trả lại tiền cho người mua khi hợp đồng giữa 2 bên thực hiện không thành. Đây là lần đầu tiên, một vụ tranh chấp hợp đồng cổ phiếu được tòa án đưa ra xét xử…
CẢ BÊN BÁN VÀ BÊN MUA ĐỀU THÔNG QUA MÔI GIỚI
Ngày 1-3-2007, bà Đào Thị N.B. và chồng là ông Trịnh Văn V. có ký hợp đồng chuyển nhượng cổ phần của Công ty Hóa chất Đạm Phú Mỹ với ông Nguyễn Khắc V. Mã số cổ đông là PVECCO 06432, với số lượng 1.200 cổ phiếu có giá 130.000 đồng/cổ phiếu. Tổng cộng số tiền mua bán giữa 2 bên là gần 200 triệu đồng. Tuy nhiên, thực chất thì ông Nguyễn Khắc V. chỉ là người môi giới trong vụ mua bán này.
Theo ông Nguyễn Khắc V., ông nghe có người cần mua cổ phiếu đạm Phú Mỹ. Sau khi biết tin này, ông Khắc V. đã hỏi người làm cùng công ty (đạm Phú Mỹ) là ông Nguyễn Văn H. Ông H. đồng ý bán 1.200 cổ phiếu cho ông V. với giá 120.000 đồng/cổ phiếu.
Trong khi đó, phía bên mua là vợ chồng bà N.B lại thông qua một người môi giới khác là ông Dương Hữu T. để tiếp cận và mua “hàng”. Ông T. có quen biết với bà N.B và được bà N.B nhờ mua hộ 1.200 cổ phiếu. Ông T. biết ông Khắc V. có nhu cầu bán cổ phiếu nên đã giới thiệu bà N.B gặp người bán để hai bên ký hợp đồng như trên đã nói. Việc trả tiền và nhận tiền được thực hiện như sau: bà N.B giao tiền cho ông T; ông T. giao lại cho ông Khắc V. Và ông Khắc V. giao tiền cho người bán là ông Nguyễn Văn H. cùng vợ là bà Thái Thị M. Khi làm thủ tục tách sổ thì do ông Nguyễn Văn H. làm nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được. Do đó, bà N.B đã kiện ông Khắc V. ra tòa, đòi lại tiền.
KHÔNG TÁCH ĐƯỢC SỔ, PHẢI TRẢ LẠI TIỀN
Tại phiên tòa, vợ chồng bà N.B yêu cầu bồi thường số tiền gấp 3 lần số tiền mua bán cổ phiếu. Còn phía bên bán là bà M, ông H. chỉ đồng ý giao 1.200 cổ phiếu của Đạm Phú Mỹ theo hợp đồng và trả tiền chênh lệch hơn 50 triệu đồng. Nếu vợ chồng bà N.B không đồng ý lấy cổ phiếu thì cũng trả tiền chênh lệch hơn 50 triệu đồng và tiền bán 1.200 cổ phiếu trên sàn. Như vậy, nếu theo điều kiện của bên bán thì rõ ràng vợ chồng bà N.B đã bị thiệt. Bởi thời điểm hai bên ký hợp đồng, giá cổ phiếu đang ở rất cao so với hiện nay.
Theo hợp đồng, bên bán phải làm thủ tục chuyển tên cho bên mua trong vòng 5 ngày, kể từ ngày phát hành cổ phiếu. Nhưng từ tháng 3-2007 đến nay, bên bán vẫn chưa chuyển tên mặc dù bên mua đã trả đủ tiền. Theo tòa, việc vợ chồng bà N.B đòi hủy hợp đồng và lấy lại tiền là có căn cứ. Cũng theo nhận xét của tòa, lẽ ra phải buộc ông Khắc V. trả lại số tiền đã nhận cho vợ chồng bà N.B nhưng trong trường hợp này thực chất ông Khắc V. chỉ là người môi giới. Ông Khắc V. chỉ giữ lại 6 triệu đồng tiền “môi giới”. Ông Hữu T. cũng vậy. Còn vợ chồng ông H, bà M đã nhận số tiền hơn 182 triệu đồng trị giá của 1.200 cổ phiếu.
Từ đó, tòa đã tuyên hủy hợp đồng mua bán cổ phiếu ngày 1-3-2007 giữa ông Khắc V. và bà N.B và giữa ông Khắc V. và ông H. Đồng thời, buộc ông H., bà M. trả lại cho vợ chồng bà N.B số tiền hơn 182 triệu đồng, ông Khắc V., ông Hữu T. phải trả lại cho bà N.B mỗi người 6 triệu đồng tiền môi giới, hoa hồng.
Qua vụ việc trên có thể thấy, nguyên nhân rắc rối là do việc mua bán lòng vòng, qua nhiều tay môi giới. Hiện nay, việc mua bán cổ phiếu đã trở thành nhu cầu của nhiều người. Do đó, cả người bán lẫn người mua cần phải gặp gỡ nhau trực tiếp và thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý để tránh những rắc rối về sau.
L.Đ
|