|
 |
|
Một góc của hồ Đá Đen - nguồn cấp nuớc sinh hoạt lớn cho cư dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. | Cùng báo cáo về tác động của các Cụm CN-TTCN đối với môi trường, cùng kiến nghị về việc cho phép hay không cho phép các dự án được triển khai với UBND tỉnh nhưng có 2 ý kiến trái ngược nhau của cùng một cơ quan chức năng là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh BR-VT. Vì sao có sự việc này?
Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, từ cuối năm 2007, Sở Tài nguyên và Môi truờng (TN và MT) đã phối hợp với Sở Công nghiệp, UBND các huyện Tân Thành, Châu Đức, Xuyên Mộc tổ chức khảo sát thực tế vị trí các cụm CN-TTCN để bổ sung vào quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn tỉnh. Qua khảo sát, trong 24 cụm CN-TTCN dự kiến bổ sung vào quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 có 7 cụm nằm gần các hồ chứa nước dùng để cấp nước sinh hoạt và có thể gây ô nhiễm các hồ này. Cụ thể, tại huyện Châu Đức có Cụm CN-TTCN Kim Long nằm ở thượng nguồn hồ Đá Đen, Cụm CN-TTCN Láng Lớn 1 (hay còn gọi là cụm Mỹ Phú-Korea) nằm ở vị trí sát thượng nguồn hồ Đá Đen. Tại huyện Tân Thành có Cụm CN-TTCN Tóc Tiên 5 và 6, nằm sát thượng nguồn hồ Suối Nhum; Cụm CN-TTCN Sông Xoài nằm ở thượng nguồn hồ Châu Pha và hồ Đá Đen, Cụm CN-TTCN Châu Pha nằm cách hồ Châu Pha khoảng 500m. Tại huyện Xuyên Mộc có Cụm CN- TTCN Tân Lâm nằm ở thượng nguồn hồ chứa nước Sông Ray.
Từ kết quả khảo sát, ngày 14-12-2007, ông Đặng Như Hiển, Giám đốc Sở TN và MT đã có báo cáo số 2275 gửi UBND tỉnh nêu rõ, việc dự kiến bổ sung 7 cụm CN-TTCN trên vào quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 là không phù hợp và có nguy cơ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nước của các hồ cấp nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh. Theo ý kiến của Sở TN và MT, ngoài lý do phải tuân thủ quy định pháp luật về bảo vệ môi trường còn có lý do rất thuyết phục là: “Vị trí các Cụm CN-TTCN đều nằm ở thượng nguồn các hồ chứa nước, nước mưa sẽ dễ cuốn trôi các chất rơi vãi, làm gia tăng mức độ ô nhiễm cho các hồ nước. Bên cạnh đó, nếu chủ đầu tư không hoàn chỉnh hoặc vận hành hệ thống xử lý nước thải không đúng quy trình kỹ thuật sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cấp nước sinh hoạt”. Và Sở TN và MT kiến nghị UBND tỉnh không bố trí 7 Cụm CN-TTCN trên.
Thế nhưng, đến ngày 27-12-2007, Sở TN và MT lại có báo cáo số 2488/STNMT.MT gửi UBND tỉnh, nội dung báo cáo kết quả làm việc với các chủ đầu tư cụm CN-TTCN có vị trí gần các hồ cấp nước. Điều đáng nói là nội dung của báo cáo này gần như đi ngược hoàn toàn với báo cáo 2275 ngày 4-12-2007 như đã nói ở trên. Theo báo cáo mới này, các chủ đầu tư cam kết sẽ thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, bảo đảm không gây ảnh hưởng đến nguồn cấp nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh bằng biện pháp không kêu gọi đầu tư các loại hình công nghiệp có nhiều nước thải, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, các công trình xử lý chất thải được đầu tư hoàn chỉnh đúng quy định của nhà nước, bảo đảm đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi cụm CN-TTCN đi vào hoạt động. Do đó, Sở TN và MT “đề nghị UBND tỉnh cho phép tiếp tục triển khai 5 cụm (trong đó có Cụm CN-TTCN Mỹ Phú-Korea-PV) đã được UBND tỉnh cho phép đầu tư và bổ sung vào quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của tỉnh. Riêng hai cụm CN-TTCN Sông Xoài (huyện Tân Thành) và Tân Lâm (huyện Xuyên Mộc) chưa có chủ trương đầu tư đề nghị không triển khai, không đưa vào quy hoạch sử dụng đất.
 |
|
Trên bản đồ, cụm CN-TTCN Láng Lớn 1 (Mỹ Phú -Korea) nằm sát bên hồ Đá Đen (vòng tròn đánh dấu). | Điều đáng nói là: tiếp sau đó Sở TN và MT lại có những động thái đi ngược với những kết luận của Ban Thường vụ tỉnh ủy. Ngày 10-3-2008, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ra thông báo số 272-TB/TU, thông báo kết luận của Ban Thưòng vụ Tỉnh uỷ về dự thảo các nghị quyết chuyên đề về phát triển công nghiệp, kinh tế dịch vụ và bảo vệ môi trường. Trong kết luận trên nêu rõ và khẳng định: “Không chấp nhận việc nước thải từ các khu, cụm công nghiệp thải vào các sông, suối đầu nguồn nước, vào các hồ chứa nước phục vụ sinh hoạt của tỉnh”. Về hướng giải quyết, kết luận nêu rõ: “Tiến hành rà soát bảy cụm CN-TTCN sẽ có nước thải vào các hồ chứa nước sinh hoạt theo báo cáo số 2488 của Sở TN và MT, loại bỏ những cụm công nghiệp này để bảo đảm an ninh nguồn nước sinh hoạt của tỉnh. Trường hợp những cụm CN-TTCN bị loại bỏ đã có chủ trương cho phép đầu tư của UBND tỉnh thì quy hoạch những cụm này ở vị trí khác để thay thế cho nhà đầu tư”.
Mặc dù quan điểm đã rõ ràng như vậy nhưng đến ngày 26-3-2008, Sở TN và MT lại có công văn số 603/STNMT.MT, do ông Nguyễn Boa, Phó Giám đốc Sở ký, nội dung công văn này tái khẳng định lại công văn 2488 ngày 27-12-2007, đề nghị tiếp tục cho phép triển khai 5 cụm CN-TTCN đã được UBND tỉnh cho phép đầu tư và bổ sung vào quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010.
Qua những gì đã nêu ở trên, một sự thật hiển nhiên có thể khẳng định là văn bản tham mưu của Sở TN và MT cho UBND tỉnh thiếu nhất quán. Như vậy, chỉ trong vòng một tháng, Sở TN và MT tỉnh BR-VT đã có 2 bản báo cáo trái nguợc nhau, và với kiểu báo cáo này, chắc chắn làm “đau đầu” các cấp có thẩm quyền trong việc quyết định các cụm CN-TTCN nói trên tồn tại hay không tồn tại.
Bài, ảnh: Đình Lê
|
DO “LỠ ” RỒI CHĂNG?
Điều đáng nói, trước khi có công văn đề nghị UBND tỉnh (công văn 2275 ngày 4-12-2007-PV) không bổ sung 7 cụm CN-TTCN có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước như trên đã trình bày thì vào ngày 19-10-2007, chính Sở TN và MT đã có quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án Cụm CN-TTCN Mỹ Phú - Korea. Đây là một thủ tục quan trọng và cần thiết để chủ đầu tư được phê duyệt dự án. Sau khi được Sở TN và MT phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường trên, ngày 15-2-2008, UBND tỉnh đã có quyết định thành lập Cụm CN-TTCN Mỹ Phý- Korea. Với 4 cụm CN-TTCN khác cũng vậy: ban đầu Sở TN và MT đề nghị UBND tỉnh không quy hoạch nhưng sau đó lại đề nghị đưa vào quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010.
Câu hỏi dư luận đặt ra: Tại sao, điều gì đã khiến Sở TN và MT có những đề nghị trái ngược nhau như vậy? Phải chăng dù đã phát hiện ra cái sai nhưng vì đã “lỡ” rồi nên sở này cho “lỡ” luôn? |
|