123
Chuyện lạ ở bệnh viện Đà Lạt - Bài 1: Sự việc đáng ngờ - Báo Bà Rịa - Vũng Tàu điện tử

Chuyện lạ ở bệnh viện Đà Lạt - Bài 1: Sự việc đáng ngờ

Thứ Sáu, 22/12/2017, 11:30 [GMT+7]
In bài này
.
Bệnh viện Đà Lạt chụp năm 1948.
Bệnh viện Đà Lạt chụp năm 1948.

Một lần lên huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, tôi tình cờ gặp ông Nguyễn Văn Hưng, nguyên là y công ở Bệnh viện Đà Lạt từ năm 1948 đến 1958. Trong buổi trò chuyện tối hôm ấy tại quán cơm bình dân do gia đình ông Hưng làm chủ, ông đã kể tôi nghe câu chuyện kinh dị mà ông là người trực tiếp tham gia.

1. “… Tôi được nhận vào làm y công tại Bệnh viện  Đà Lạt năm 1948, lúc đó mới 19 tuổi…”, ông Hưng mở đầu câu chuyện sau khi rót cho tôi ly rượu thuốc nhà ngâm. Theo ông Hưng, công việc của ông cũng tương tự như hộ lý bây giờ - nghĩa là làm những việc linh tinh như đẩy băng ca đưa bệnh nhân từ khoa này sang khoa khác, thay quần áo cho người bệnh, giúp họ tiêu, tiểu...

Thời gian này, nhà xác bệnh viện xảy ra một chuyện rất lạ khiến nhân viên ai cũng hoang mang. Ấy là thỉnh thoảng khi đưa xác chết vào 1 hoặc 2 hôm sau đem ra cho người nhà nhận về chôn cất - hoặc bệnh viện chôn vì không rõ nhân thân lai lịch - thì có xác bị mất hết cả hai con mắt, còn những bộ phận khác đều nguyên vẹn. 

Hồi đó còn trẻ, tính lại tò mò nên một hôm nghe nói có xác bị mất mắt, ông Hưng xuống coi. Ông kể: “Đó là một thiếu nữ khoảng 20 tuổi, chết vì bệnh thương hàn. Tấm vải trắng phủ trên mình tử thi bị kéo lệch sang một bên, hở ra phần đầu, cổ. Hai bên mắt, lớp da mí mắt rách nham nhở còn toàn bộ nhãn cầu thì không còn nữa, lộ ra hốc mắt sâu hoắm, máu khô đen”. Để gia đình bệnh nhân khỏi thưa gởi và cũng để sự việc không lọt ra ngoài, gây hoang mang, giám đốc bệnh viện cho người may kín mí mắt và giải thích rằng phải làm vậy để tránh lây lan vì vi trùng thương hàn tập trung nhiều ở mắt (?!). May mắn là gia đình nạn nhân tin vào lời giải thích, nhận xác về mà không khiếu nại gì.

Các cán bộ, nhân viên bệnh viện bàn ra tán vào, thôi thì đủ giả thuyết. Giám đốc bệnh viện lúc ấy là một bác sĩ người Pháp mà theo ông Hưng thì mọi người vẫn gọi là “Đốc tờ Mông - Docteur Mont”. Đích thân ông giám đốc cùng mấy bác sĩ nữa xuống nhà xác khi bộ phận tẩn liệm báo cho ông biết lại có thêm một xác bị mất 2 mắt. Sau gần một tiếng xem xét, ông Mông kết luận nguyên nhân là do thú vật ăn, nhưng con gì ăn thì vẫn còn bí ẩn.

Cũng cần nói thêm rằng hồi đó chưa có hệ thống trữ lạnh như bây giờ nên nhà xác bệnh viện Đà Lạt nằm biệt lập ở một góc xa, chung quanh là những cây thông cao vút xen lẫn mấy cây xoài cổ thụ. Trên những cây thông này, lại có khá nhiều sóc. Phải chăng chính những con sóc là thủ phạm? Nhưng sóc thì chỉ ăn quả thông chứ không ăn thịt động vật. 

Xem xét xác chết xong, ông Mông cùng những bác sĩ khác quan sát kỹ lưỡng căn nhà. Đó là nhà cấp 4, tường gạch, mái ngói, có 2 bóng đèn tròn loại 40w được thắp sáng cả ngày lẫn đêm. Trên tường nhiều chỗ vôi vữa đã tróc hết, lòi ra những viên gạch nhưng tuyệt nhiên không có một lỗ hở nào. Nền nhà cũng vậy, bằng xi măng. Dù nhiều chỗ bể, nứt nhưng vẫn liền lạc, không hang không hốc. Giữa nhà có 4 cái bệ cũng bằng xi măng dùng để đặt xác chết, dài 2,2m, rộng 1,2m và cao chừng 1m. Bệ này cách bệ kia khoảng 1,5m. Nhà chỉ có 1 cửa ra vào gồm 2 cánh, rộng khoảng 2m, là loại cửa “lá sách”, khoảng hở rất nhỏ, bàn tay người cho vào không lọt. Ông Hưng kể: “Dù có xác hay không có xác, cửa luôn luôn khóa kín và chỉ mở khi đưa xác vào hoặc đẩy xác ra. Tôi tự hỏi nếu do sóc, chồn ăn thì chúng vào bằng đường nào?”.

2. Cuối cùng, bác sĩ Mông yêu cầu nhân viên lắp thêm 2 bóng đèn trong nhà xác, còn xung quanh 4 bức tường bên ngoài, ông cho lắp 8 bóng nữa, đồng thời lập ra một tổ gồm 6 y công, trong đó có ông Hưng và ra lệnh theo dõi khu vực nhà xác 24/24 giờ. Bác sĩ Mông nói: “Cho đến khi chúng ta tìm ra sự thật về chuyện này, tôi cấm các anh phát biểu lung tung, kể cả với gia đình, vợ con các anh. Nếu có thêm xác chết nào bị mất mắt mà các anh không biết được nguyên nhân thì tôi cho các anh nghỉ việc”.

Chấp hành lệnh giám đốc, 6 y công chia làm 3 nhóm, mỗi nhóm 2 người trực theo dõi. Nếu có xác chết thì mỗi phiên gác kéo dài 4 tiếng. Người ngồi phía trước có nhiệm vụ quan sát cửa ra vào và bức tường đầu hồi bên trái nhà xác. Người ngồi phía sau quan sát mặt sau và bức tường bên phải. Cả tổ vũ trang bằng mấy cây gậy, dài hơn 1m, đầu gậy đóng đinh tua tủa. Ngoài ra, tổ trưởng là anh Thắng còn có 1 cây đèn pin và 1 cái còi để thổi báo động nếu cần sự tiếp cứu.

4 ngày đầu, do không có ai chết nên tổ y công tương đối thảnh thơi. Đến trưa ngày thứ 5, có một người chết vì bệnh lao. Khi khoa truyền nhiễm đưa xuống, anh Thắng tổ trưởng quyết định đặt xác ngay trên chiếc bàn đá gần cửa ra vào nhưng không phủ tấm vải trắng để tiện việc quan sát. Và mặc dù nhiều người chưa đến phiên gác nhưng ai cũng thức trắng, tâm trạng hồi hộp xen lẫn sợ hãi. Cả đêm trôi qua trong sự căng thẳng chờ đợi nhưng không chuyện gì xảy ra ngoại trừ lúc khoảng 3 giờ, có tiếng sột soạt khá lớn trên mái nhà. Thấy tiếng động bất thường, anh Thắng chiếu đèn pin lên nhưng chỉ chiếu sáng được một phía. Lúc vòng ra phía sau chiếu tiếp cũng chẳng thấy gì. Anh em đoán có lẽ một cành thông khô nào đó rơi rụng, hoặc một con sóc ăn đêm. Lại có ý kiến cần dựng một cái chòi để quan sát được cả mái ngói.

Hôm sau, thân nhân người nhà vào nhận xác. Ý kiến dựng chòi được trình lên giám đốc và được chấp thuận ngay. Tới chiều, căn chòi hoàn thành gồm 4 thân cây chôn sâu dưới đất, cao 3m, trên gác mấy tấm ván làm chỗ ngồi, có cầu thang để leo lên nhưng chòi không có nóc…

Hai ngày tiếp theo, bệnh viện không có bệnh nhân nào chết nhưng đến chiều ngày thứ ba, 2 tử thi được chuyển xuống nhà xác vì dịch tả. Tổ y công đặt 2 xác trên 2 bàn đá cạnh nhau - cũng gần cửa ra vào. Theo lệnh tổ trưởng, nhóm trực gác không ngồi giữa sân nữa, mà những chiếc giường bố được kéo vào sau những gốc thông, còn ông Hưng là người đầu tiên leo lên chòi, làm nhiệm vụ canh gác mái nhà.

10 giờ khuya, hết phiên gác, ông Hưng leo xuống, nhường chỗ cho một y công khác tên Minh lên thay. Ông Hưng kể: “Khoảng gần 1 giờ sáng, đột ngột anh Minh la lớn: “Nó, nó kìa”... 

Nghe tiếng hét, cả tổ y công nháo nhào chạy ra, ai cũng lăm lăm cây gậy, kẻ vây phía trước, người bủa phía sau nhưng chẳng ai có thể nhìn thấy sự gì đang diễn ra trên mái ngói. Anh Thắng - tổ trưởng hét lên: “Nó đâu, nó đâu. Nó là cái gì vậy?”. Một lát, anh Minh từ trên chòi leo xuống. Có lẽ anh sợ vì hai chân anh run lẩy bẩy. Miệng anh lắp bắp câu được câu không: “Tui thấy nó. Nó từ trên cành thông nhảy xuống rồi chạy dọc theo lớp ngói lợp giữa hai mái. Tui rọi đèn pin. Nó quay lại nhìn tui rồi chạy ngược về chỗ cũ, leo lên cành thông biến mất”.

VŨ CAO
(Ghi theo lời kể của ông Nguyễn Văn Hưng)


Chuyện lạ ở bệnh viện Đà Lạt - Bài 1:  Sự việc đáng ngờ

Còn nữa

;
.